Diên vĩ “uống vào gây ngộ độc”

Cỏ thì: không uống quá liều; bôi ngoài da có thể gây dị ứng; không dùng khi mang thai
Cỏ đuôi ngựa (field horsetail): uống vào có thể làm giảm kinh nguyệt.
Gừng: có thể gây phong nêu dùng quá nhiều; không dùng khi ung thư dạ dày hay trong thời kỳ mới mang thai.
Cây lá quạt (ginkgo): hạt và lá rất độc nếu dùng quá liều hoặc quá thường xuyên; có thể gây viêm da (dermatitis) hoặc phỏng da.
Nhân sâm: Dùng quá liều gây cao huyết áp, suy sụp, mất ngủ; thận trọng dùng khi mang thai hoặc cao huyết áp.
Diên vĩ: uống vào gây ngộ độc.
Thủy tùng Nhật: rất độc, có thể gây tử vong; không uống.
Lài: có thể gây dị ứng ở một số người.
Oải hương: Không dùng khi mang thai.
Chanh: có thể gây dị ứng khi bôi vào da.
Cam thảo: độc khí quá liều; không dùng khi mang thai, cao huyết áp, bệnh thận.
Bạc hà: Không dùng quá liểu; trẻ con và phụ nữ mang thai không được dùng.
Ngải cứu (mugwork): Không quá liều hoặc dùng liên tục; không dùng tinh dầu; không dùng khi mang thai.
Dâu tằm: có thể gây dị ứng ở một số người; không dùng quá liều.
Nhục đậu khấu: dùng quá 7 gam/lần sẽ gây co giật hay tim đập nhanh (palpitation).
Cam: có thể gây dị ứng khi bôi ngoài da; lưu ý vỏ cam có thể bị nhiễm thuốc trữ sâu.
Đào: hạt rất độc.
Tía tô: tợi tiểu và nhuận tràng (laxative); không nên dùng nhiều hoặc dùng cho trẻ em.
Mã đề: có thể gây dị ứng.
Mận: hạt rất độc.
Ớt đỏ: hạt độc, dùng quá liều có thể tổn hại gan hoặc làm viêm dạ dày và ruột; không dùng khi mang thai hay cho con bú; bôi lên da có thể làm mọng nước; tránh bôi vào mắt hoặc vết thương.
Hồng hoa (safflower): không dùng khi mang thai.
Dẹ vàng: không dùng tinh dầu.
Xô thơm: không dùng với người mang thai hoặc mắc chứng động kinh.
Dâu tây: có thể gây dị ứng.
Trà: hạn chế dùng khi mang thai hoặc cho con bú; không dùng khi ung thư dạ dày hoặc rối loạn tim mạch.
Húng tây: không dùng khi mang thai.
Cỏ roi ngựa (vervain): không dùng khi mang thai.
Cỏ thì: không uống quá liều; bôi ngoài da có thể gây dị ứng; không dùng khi mang thai.
Lô Hội
Dù cây lô hội không mọc ở Viễn Đông nhưng lại rất quan trọng trong dược thảo cổ truyền Á đông. Nhiều gia đình trồng nó trong chậu để có thuốc trị bỏng. Khắp thế giới đánh giá cao đặc tính chữa lành và làm đẹp của nó. Cleopatra đã dùng nó để bôi da. Ngày nay người ta dùng nó để trị bỏng do phóng xạ hạt nhân.
Là một cây lưu niên và quanh năm xanh lá có tên khoa học là Aloe aborescens hoặc Aloe vera, hoặc Aloe barbadensis tùy loại.

You may also like...